|
"Tôi mong muốn xây dựng
được một cơ sở đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ trong ngành Toán lý thuyết và
ứng dụng ở Hà Nội. Cơ sở này tổ chức theo hình thức các graduate school
trong các trường ĐH lớn phương Tây, SV có thể được trang bị các kiến
thức từ cơ bản đến chuyên sâu và có thể theo học các bài giảng của các
nhà Toán học có uy tín. Nhiều nhà Toán học Mỹ, Pháp sẽ sẵn sàng tham gia
giảng dạy trong một cơ sở như vậy".
GS Ngô
Bảo Châu bày tỏ trong cuộc trò chuyện với VietNamNet.
Kỳ 1:
Vũ Đình Hoà:
Người gắn bó với Olymic Toán quốc tế
Kỳ 2:
Phan Thị Hà
Dương: Về nước là điều tất nhiên
Kỳ 3:
Nguyễn Thúc
Dương- Huy chương Olympic chỉ là bước khởi đầu
|
|
Đội
tuyển IMO Việt Nam (Ngô Bảo Châu đứng thứ 3 từ trái sang) |
"Công nhận GS
sẽ tạo thuận lợi cho tôi"
-
Chúc mừng anh được đề nghị
đặc cách công
nhận GS. Cảm giác của anh khi nhận được tin này? Trước đó, anh phải thực
hiện thủ tục gì không?
Cảm ơn, tôi cảm thấy rất vui và tự
hào.
Cuối năm 2004, khi các anh ở viện
Toán có gợi ý tôi làm đơn đề nghị công nhận chức danh GS, tôi cũng hơi
đắn đo. Về phương diện thuần tuý khoa học, tôi không nghĩ là mình không
xứng đáng, nhưng về phương diện đào tạo thì tôi chưa có đóng góp gì
nhiều.
Sau khi suy nghĩ kỹ, tôi đã
gửi cho các anh ấy đơn vì tin rằng việc được công nhận GS sẽ tạo điều
kiện thuận lợi hơn trong các kế hoạch công tác nghiên cứu và đào tạo của
tôi trong tương lai ở VN.
- Tức là anh sẽ về Việt Nam làm việc?
Tôi hy vọng thời gian tới sẽ về công
tác đều đặn ở Viện Toán học. Tôi sẽ sắp xếp công việc ở Paris 11 để có
thể về Hà Nội mỗi năm 1 đến 2 tháng, hy vọng là nhiều hơn nữa trong
tương lai.
Giáo sư ở
VN giống Viện sỹ ở Pháp
|
|
Ngô
Bảo Châu cùng mẹ, PGS Trần Vân Hiền và Giáo sư
Henri Regemorter |
- Có người cho rằng, quan trọng không
phải là trẻ hoá độ tuổi phong GS,
mà là nâng
cao chất lượng PGS, GS Việt Nam. Anh có đồng tình với ý kiến này?
Tôi nghĩ
việc phong chức danh GS là cần thiết. Với hình thức này, nhà nước công
nhận một cách chính thức thành quả của một sự nghiệp KH. Làm việc có
danh chính ngôn thuận, chức danh rõ ràng vẫn hơn.
Nhưng một
mặt khác, vì nó là chức danh, chứ không phải chức vụ cụ thể, nên việc
phong ai, già hay trẻ, tôi không nghĩ là sẽ ảnh hưởng nhiều đến sự tiến
bộ của giáo dục ĐH.
|
1993, Bảo Châu bắt đầu làm
việc với ông Gérard Laumon. Ông hướng dẫn anh luận văn thạc sỹ,
rồi
luận án tiến sỹ với đề tài “Bổ đề cơ bản của Jacquet”, khá gần với
“bổ đề cơ bản của Langlands” mà trường hợp đặc biệt là nhóm unita.
Khi
xong luận án, anh làm việc trên một số bài toán khác và có một số
thành công. Sau đó, một số nhà Toán học uy tín khuyên anh nên quay
lại với bổ đề cơ bản của Langlands.
Sau 2 năm, anh thực hiện được một
bước tiến rõ rệt vào hè năm 2003 trong thời gian ở HN.
Những tháng tiếp theo, kết hợp với một số kết quả ông Laumon thu
được trước đó, 2 thầy trò hoàn thành chứng minh bổ đề cơ bản cho
nhóm unita. |
Ở các nước
phương Tây, chức danh GS không thuần tuý danh dự như ở nước mình, mà là
một chức vụ đi kèm với một số trách nhiệm và quyền lợi cụ thể.
Chức danh
này không do một hội đồng cấp nhà nước xét, mà HĐ khoa học của khoa trực
tiếp chọn. Thường thì việc lựa chọn này rất gay gắt vì tương lai của một
khoa, một trường phụ thuộc nhiều vào việc có tuyển được GS giỏi hay
không. Danh tiếng của khoa, trường cũng phụ thuộc vào thành tích khoa
học của các GS và giảng viên.
Cách phong
GS ở VN hơi giống với việc phong Viện sĩ ở Pháp. Ở Pháp, Viện sĩ là một
chức danh có tính chất danh dự. Thường thì tuổi trung bình của các Viện
sĩ tương đối cao. Tất nhiên là ta khó có thể so sánh mặt bằng chung của
GS VN với Viện sĩ Pháp trên phương diện khoa học.
- Phần
việc quan trọng của các PGS, GS là nghiên cứu khoa học. Nhưng, có quá
nhiều dư luận rằng việc NCKH của nước ta
không hiệu quả. Có kinh nghiệm ở một môi trường thuận lợi hơn, anh có
đóng góp ý kiến về việc này?
Theo tôi
biết, chuyện làm đau đầu những người tâm huyết với giáo dục ĐH là việc
tuyển chọn cán bộ trẻ. Liệu ta có tuyển được những người ưu tú nhất, sẽ
là bộ mặt giáo dục ĐH Việt Nam trong 10 năm nữa hay không.
Hiện tại,
giảng viên ĐH thường không nghèo, có nhiều người còn khá giàu, nhưng để
được như vậy họ phải dạy thêm khá nhiều và trong điều kiện đó khó đòi
hỏi ở họ một công tác KH nghiêm túc.
Nếu ta
không định lôi kéo những người ưu tú nhất bằng lương thì trước mắt cần
tạo cho họ một điều kiện làm việc đủ tốt. Tôi không bàn đến những ngành
KH thực nghiệm cần thiết nhiều loại thiết bị thí nghiệm, chắc vấn đề này
còn nhức đầu hơn nhiều. Nhưng các ngành KH lý thuyết như Toán cũng cần
các trang bị tối thiểu là một phòng làm việc yên tĩnh, một máy tính nối
mạng ổn định, và một thư viện chuyên môn.
Theo như
tôi biết, ở Hà Nội chỉ có đúng một thư viện Toán nằm ở Viện Toán, ở các
trường thì hầu như không có hoặc có thì rất nghèo nàn. Các cán bộ giảng
dạy không có phòng làm việc, chỉ có một phòng sinh hoạt chung tương đối
náo nhiệt, không thể làm việc được.
Trong xây dựng cơ sở hạ tầng, phải
chăng ta đã ưu tiên vào những chỗ mang tính hình thức mà bỏ qua những
cái có thể cải thiện điều kiện làm việc.
Say sưa với
việc tìm những chân trời mới
|
|
Báo
cáo thành tích sau giải Nhất Toán quốc tế |
-
Ai
cũng biết công trình "Bổ
đề cơ bản" nhận giải thưởng Clay là rất
xuất sắc, nhưng cụ thể nó "là cái gì" thì đại đa số đều không rõ. Một
cách đơn giản, anh có thể nói qua để bạn đọc có hình dung sơ bộ nhất,
chẳng hạn, nó đề cập đến những vấn đề gì?
Nó là một bài toán có tính kỹ thuật, nhưng là mấu chốt trong cái gọi
là chương trình Langlands do nhà toán học Canada này đưa ra.
Chương
trình này có mục đích tầm xa là thống nhất lý thuyết số, hình học đại số
vá lý thuyết biểu diễn.
- Nó có
ứng dụng gì trong Toán học hiện đại, mở rộng hơn là ảnh hưởng gián tiếp
trong cuộc sống?
Một bộ
phận lớn của Toán lý thuyết không phát triển theo những đòi hỏi thực tế
của cuộc sống mà theo các đòi hỏi nội tại của nó. Không phải vì thế mà
nó hoàn toàn tách rời khỏi đời sống thực tế.
Các vệ
tinh khó mà phóng được nếu ta không giải được các hệ phương trình rắc
rối xác định quĩ đạo của nó. Hay như để nén thông tin, nén ảnh cũng phải
nhờ đến những thuật toán toán học. Hoặc cách google xây dựng database
của họ để giúp ta có thể tìm được đủ loại thông tin trên mạng cũng là
một thuật toán.
Có những
người biết cách sử dụng những kiến thức đã có để
ứng dụng vào thực
tế và có những người khác say sưa hơn với việc tìm những chân trời mới.
Nhiều
người đang kỳ vọng anh sẽ đoạt được giải thưởng Fields (được coi là giải
Nobel của Toán học, dành cho các nhà Toán học tuổi dưới 40). Năm nay,
anh 33, anh có nghĩ mình đủ thời gian đạt được điều này?
Tôi nghĩ
người làm khoa học không có mấy ai làm việc để mong đoạt một giải
thưởng.
"Làm khoa
học không được gián đoạn"
|
|
|
Cùng
bố, GS,TSKH Ngô Huy Cẩn. |
-
Khoa học cơ bản, nhất là Toán không phải là con đường dễ
dàng và dễ giàu. Nhiều tài năng Toán đã chuyển sang những hướng đi khác.
Anh có tâm sự gì với lớp đàn em giỏi Toán cũng ấp ủ khát vọng này?
Tôi nghĩ
việc nhiều cựu HSG Toán chuyển sang các ngành nghề khác không hẳn là
chuyện đáng buồn mà nên vui vì hầu hết họ đều thành công. Có hơi buồn
một chút ít là khi nghĩ về quá khứ, có một số anh chị phải bỏ Toán vì họ
không có lựa chọn nào khác. Sự khắc nghiệt của cuộc sống bắt họ phải từ
bỏ ham mê khoa học.
Nếu có một
tâm sự với các bạn trẻ hơn, tôi chỉ xin nhắn là các bạn may mắn hơn
nhiều lớp đàn anh vì các bạn có lựa chọn. Đúng là khoa học không phải là
con đường dễ dàng và dễ giàu, nó là một con đường chông gai, nên cần có
đủ niềm tin và say mê để lựa chọn con đường này. Đổi lại, phần thưởng sẽ
là những cảm xúc, những chân lý mà bạn sẽ khó đến gần nếu chọn một con
đường khác.
-
Theo ý kiến riêng của anh thì trong 30 năm qua, Toán
học Việt Nam có thành tựu gì đáng kể? Và
triển vọng
trong tương lai?
Tôi không
có cái nhìn tổng quan để có thể phát biểu về thành tựu của Toán học Việt
Nam trong 30 năm qua. Trong một số ngành hẹp mà tôi có biết ít nhiều như
Đại số giao hoán, Lý thuyết kỳ dị, hay Topo đại số, ta đều có các chuyên
gia thuộc loại cứng, có uy tín trên thế giới. Tôi không bi quan về tương
lai của Toán học VN vì trong khoảng 5, 7 năm trở lại đây, có nhiều bạn
trẻ có tiềm năng đã lại đến với Toán học. Và họ có điều kiện để học hành
đến nơi đến chốn.
Cái đáng lo
lắng là sau khi đã được đào tạo nghiêm túc, liệu họ có điều kiện tiếp
tục nghiên cứu khoa học hay không. Làm Toán nói riêng, làm khoa học nói
chung là một hoạt động không được có gián đoạn. Tôi chưa thấy ai, nghỉ
hẳn nghiên cứu KH trong vòng 2,3 năm để dạy thêm hay làm việc khác với
mục đích kiếm sống, lại có thể bắt tay lại được với công việc nghiên cứu
một cách thật sự.
"Tôi tự
thấy mình cần phải học tiếp"
-
Được biết anh cùng Lê Tự Quốc Thắng và Nguyễn Tiến
Dũng tìm cách kết nối giúp giới Toán học trong nước. Anh có thể cho biết
cụ thể hơn về dự định này được không?
Anh Lê Tự
Quốc Thắng và anh Nguyễn Tiến Dũng đang tích cực xây dưng một mạng lưới
các nhà Toán học VN làm việc ở nước ngoài. Mạng lưới này có thể rất có
ích trong việc giúp những người đi sau.
Ở Pháp, ông
Lionel Schwartz, GS ĐH Paris 13 và tôi, cùng với phía Việt Nam, GS Đinh
Dũng, viện CNTT, ĐHQG HN và GS Hà Huy Khoái, Viện Toán học, tổ chức mạng
lưới Formath Vietnam với mục đich ủng hộ hợp tác nghiên cứu Toán học
giữa VN và Pháp và đào tạo các nhà Toán học trẻ cho Việt Nam. Số SVVN
đang làm hoặc chuẩn bị làm luận án tiến sĩ ở Pháp có thể kể đến hàng
chục. Nếu đây đều là các luận án thật sự có chất lượng, thì sẽ là một
con số đáng kể với ngành toán Việt Nam.
Tôi có một
mong muốn lớn là xây dựng được một cơ sở đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ
trong ngành Toán lý thuyết và ứng dụng ở Hà Nội. Cơ sở này tổ chức theo
hình thức các graduate school trong các trường ĐH lớn phương Tây, SV có
thể được trang bị các kiến thức từ cơ bản đến chuyên sâu và có thể theo
học các bài giảng của các nhà toán học có uy tín. Nhiều nhà Toán học Mỹ,
Pháp sẽ sẵn sàng tham gia giảng dạy trong một cơ sở như vậy.
Anh có hay
về Việt Nam?
Thường năm
nào tôi cũng về HN. Một vài năm trước tôi có tham gia hướng dẫn một nhóm
SV trường ĐHSP HN nên về dạy thường xuyên hơn. Hiện tại, hai SV trong
nhóm đã sang Paris làm luận án tiến sĩ, nên tôi tạm dừng các khoá giảng
dạy ở HN.
- Sau thành
công của một người chồng là vợ,
trong sự trưởng thành của một học trò xuất sắc là…?
Cảm ơn
VietNamNet đã cho tôi dịp phát biểu trên mặt báo. Nhân đây, tôi xin bày
tỏ sự biết ơn của mình với thầy cô giáo cũ. Tôi nghĩ về anh Phạm Ngọc
Hùng, người thầy Toán đầu tiên của tôi, thầy Tôn Thân, anh Lê Tuấn Hoa,
anh Vũ Đình Hoà, anh Nguyễn Minh Đức, anh Đỗ Đức Thái, thầy Phạm Hùng và
những người đã truyền lại cho tôi niềm say mê với Toán học.
Tôi nhớ đến
các cô giáo dạy văn, cô Phương mà cả lớp vỡ lòng tôi gọi là mẹ, cô Vi Ba
ở trường Trưng Vương, cô Hằng trường Trưng Nhị và cô Hoa ở khối chuyên
Toán Tổng hợp, các cô dạy chúng em môn học khó nhất là học làm người.
Đã qua tuổi
30, tôi vẫn tự thấy mình cần phải học tiếp.
Theo
Hoàng Lê
VietNamNet
Trang đầu |